Nếu được triển khai ở giai đoạn đầu và với sự tham gia đông đảo của cộng đồng kinh doanh trong nước, TMĐT có thể thúc đẩy sự phát triển chung, thậm chí đối với cả những doang nghiệp không liên quan trực tiếp tới TMĐT. Mặt khác, nếu tiến hành quá muộn, thị trường giữa các nước có chi phí lao động thấp sẽ bị phân chia và bất kỳ ai tham gia vào thị trường sẽ phải nỗ lực hết mình để thu hồi thị phần từ những đối thủ cạnh tranh đã có những kinh nghiệm và quan hệ kinh doanh được thiết lập. Việc áp dụng TMĐT quá muộn hay với quy mô quá hẹp sẽ tác động tiêu
cực tới kinh tế nội địa và cả tới sựphát triển của toàn xã hội do để
mất thị phần trên thị trường thế giới vào tay các nước khác.
Nhiều nước trong khu vực và trên thế giới đã sẽ tiến hành TMĐT từ
rất sớm. Để có thể hiểu kỹ hơn về sự phát triển của TMĐT, hãy xem ví dụ
của một công ty sử dụng cách đặt hàng bằng thư của Đức. Nó được thành
lập đầu những năm 20 của thế kỷ XX và vào thời gian đó, đã phát hành
danh sách giá bán hàng hoá, cái mà sau này gọi là catalog. Việc giao
hàng được tiến hành qua bưu điện với phương thức Giao hàng khi nhận
tiền mặt (cash on delivery). Từ giữa những năm 60, công ty chấp nhận
đặt hàng qua điện thoại. Bắt đầu từ những năm 1995, catalog của công ty
được đưa lên CD-ROM. Cho tới nay, mọi hoạt động đều là thương mại từ xa
(Tele Trade): người mua, người bán không bao giờ gặp mặt nhau. Chào
hàng, đặt hàng, giao hàng và thanh toán đều được thực hiện từ xa. TMĐT
bắt đầu tới với công ty vào cuối năm 1995, khi họ được đưa catalog lên
Internet.
Ngay sau đó, công ty đã có thể nhận đơn đặt hàng qua email hoặc đặt
hàng thanh toán trực tuyến qua Web. Như vậy, việc áp dụng TMĐT tương
đương với việc đưa ra một kênh liên lạc mới: chào hàng thông qua web,
đặt hàng qua web hoặc email, cung cấp thông tin về thẻ tín dụng qua
web. Mãi tới tháng 7 năm 1997, luật về chữ ký điện tử của Đức mới được
thông qua và cho tới nay vẫn chưa có văn bản luật pháp rõ ràng về việc
mã hoá thông tin được ban hành ở Đức.
Các hình thức phát triển diễn ra ở Việt Nam có thể miêu tả vắn tắt
như sau: Catatlog đầu tiên xuất hiện vào khoảng giữa năm 90. Hình thức
đặt hàng qua thư chưa xuất hiện. Trừ các đơn hàng nhỏ giữa các đối tác
thương mại đã có quan hệ với nhau thì hình thức đặt hàng qua điện thoại
vẫn chưa hề phổ biến. Rất ít công ty đưa ra một chào hàng rõ ràng về
sản phẩm của mình trên Internet. Có ít doanh nghiệp sử dụng email để
đều đặn thông báo cho khách hàng về các mức giá cả hiện thời. Thực tế
này đã khá bi quan cho đất nước đã nối mạng Internet từ năm 1997 và có
số lượng thuê bao tăng mạnh trong thời gian qua. Dựa trên kinh nghiệm
của các nhà tài trợ quốc tế, các dự án phát triển TMĐT tại Việt Nam cho
tới nay chủ yếu tập trung vào việc làm thế nào để hỗ trợ bước đi cuối
cùng tới TMĐT: Tăng số người dùng máy vi tính, cung cấp cơ sở hạ tầng
về Internet và ngân hàng, giúp các công ty sử dụng Internet như một
hình thức liên lạc mới và tư vấn cho các nhà lập pháp ban hành những
quy định và luật lệ tạo thuận lợi cho sự phát triển của thương mại điện
tử.
Khi so sánh sự phát triển của thương mại từ xa và TMĐT với tình hình
phát triển ở Việt Nam, chúng ta rút ra kết luận là các quy định cụ thể
quan trọng nhất để TMĐT ra đời đã sẵn có: Luật Dân sự năm 1995 đã quy
định rõ, hợp đồng có thể dưới dạng nói, viết hoặc thông qua việc thực
thi những hành động nào đó. Hành động nào đó có thể là việc gửi email
hoặc là click vào một nút nào đó trên website. Luật Thương mại năm 1997
qui định hợp đồng có thể dưới dạng nói, viết hoặc bằng hành vi cụ thể.
Bộ luật này cũng quy định điện báo, điện tín, fax, email và các hình
thức liên lạc điện tử khác được coi là dưới dạng văn bản. Các công ty
có thể đăng ký dùng thẻ tín dụng ở Việt Nam mà không gặp nhiều khó
khăn. Giao dịch từ doanh nghiệp tới doanh nghiệp (B2B) chiếm phần lớn
trong TMĐT và ở Việt Nam, Internet cũng sử dụng các tiêu chuẩn, quy
định như trên thế giới. Nghị định mới 55/CP của Chính phủ về Internet
đã cho phép các công ty thương mại tự đưa trang web của mình lên
Internet mà không cần tới vai trò can thiệp sâu của ISP hay ICP vào như
trước. Mặc dù vậy, cho tới nay vẫn chưa có một công ty nào của Việt Nam
sử dụng một giải pháp Internet hoàn chỉnh hay chấp nhận đơn đặt hàng cố
định. Lý do chính là hầu như không thể tiến hành Thương mại từ xa ở
Việt Nam mà không có thương mại từ xa thì không thể tiến hành thương
mại điện tử.
Hiện nay, một khi hoá đơn được ký phát thì việc huỷ bỏ nó là rất khó
khăn. Do vậy, ở Việt Nam, hình thức Mua hàng thử (với đảm bảo cho phép
người mua hoàn trả vô điều kiện) là gần như không thể áp dụng. Do đó,
người bán sẽ gặp nhiều rủi ro: họ sẽ phải trả thuế đánh vào các khoản
doanh thu mà trên thực tế chưa bao giờ tồn tại. Ngoài ra, người mua
thường viện nhiều lý do để trả lại hàng trong thương mại từ xa hơn là
mua hàng ở cửa hàng thực. Do vậy, các qui định liên quan cần được sửa
đổi để tạo điều kiện dễ dàng hơn cho việc huỷ bỏ hoá đơn.
Các giao dịch được giữ kín, một trong những nền tảng cơ bản của
Thương mại từ xa và TMĐT, hiện nay chưa được thực thi tại Việt Nam do,
xét về mặt kỹ thuật, việc mã hoá làm phạm luật ở Việt Nam. Chí ít thì
việc mã hoá https (cho các website bảo mật) cần được chính thức cho
phép càng nhanh càng tốt. Ngay khi những yêu cầu này được đáp ứng thì
các doanh nghiệp sẽ có thể áp dụng thương mại từ xa, bước tiến quan
trọng đầu tiên vào ngưỡng cửa TMĐT.
Để có thể giúp các nhà kinh doanh TMĐT và loại bỏ những khó khăn có
thể vướng với hải quan và thuế vụ, xin thử nêu một số giải pháp sau:
Hiện tại, các doanh nghiệp Việt Nam thông thường không có quyền mở tài
khoản ở nước ngoài. Đối với những gì không được nêu ra bằng văn bản thì
các công ty và các quan chức có xu hướng hiểu các đạo luật theo hướng
mọi thứ mà không được quy định rõ ràng được phép làm tức là bị cấm. Chí
ít, chừng nào các ngân hàng của Việt Nam chưa sẵn sàng cấp các tài
khoản thương mại hoạt động qua Internet (mặc dug điều này có thể tiến
hành dễ dàng) thì văn bản luật nên quy định cho phép các công ty được
phép mở các tài khoản ngân hàng ở nước ngoài, nếu như điều đó tạo điều
kiện thuận lợi cho họ nhận tiền thanh toán. Tại các nước khác tương tự
Việt Nam, việc sử dụng các tài khoản ở nước ngoài là rất phổ biến, đặc
biệt là ở những nước mà trình độ phát triển của khu vực ngân hàng chậm
hơn chu cầu phát triển của nền kinh tế.
Pháp lệnh về Hợp đồng kinh tế năm 1990 có những nội dung gây ra một
số nhầm lẫn do nó phần nào mâu thuẫn với Bộ Luật dân sự năm 1995 và
Luật Thương mại năm 1997. Hoặc là pháp lệnh đó phải được xoá bỏ hoàn
toàn hoặc là được điều chỉnh bổ sung với các bộ luật ban hành trong
thời gian gần đây, chủ yếu là liên quan tới lĩnh vực Thương mạ từ xa và
TMĐT. Trong bối cảnh thiếu một khung pháp lý hoàn chỉnh hơn, chúng ta
cần hiểu rằng, sẽ có nhiều rủi ro hơn cho các đối tác kinh doanh. Tuy
nhiên, theo như kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới, các doanh
nghiệp đều sẵn sàng chấp nhận rủi ro ở mức hạn chế (chẳng ai sử dụng
TMĐT trong một thương vụ trị giá hàng triệu USD với một đối tác không
biết mặt), đặc biệt khi lợi ích tiềm năng của TMĐT là rất lớn. Nhà nước
có thể đưa ra lý do để kiểm soát chặt chẽ các công ty quốc doanh, nhưng
nhà nước không nên cấm các doanh nghiệp tư nhân chấp nhận rủi ro, thậm
chí nếu như điều đó khiến cho khu vực tư nhân có thêm một số lợi thế
cạnh tranh so với khu vực nhà nước.